Cách viết này dễ gây cho người đọc hiểu nhầm nội dung vụ án là nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử

(Còn nữa) Ngô Cường. Về Thư ký Tòa án, các bản án đều ghi “Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông (bà)…cán bộ Tòa án quần chúng.
Về việc ghi “Người bảo vệ quyền và lợi ích…” và “người đại diện”: phần đông các bản án đều không ghi “Người bảo vệ quyền và lợi.
Phần nhận thấy của bản án: Theo quy định tại khoản 4 Điều 164 Luật Tố tụng hành chính, phần nhận thấy (phần nội dung vụ án) phải ghi đề nghị khởi kiện của người khởi kiện; yêu cầu của người bị kiện; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, trách nhiệm can hệ. Phần mở màn của bản án: Khoản 3 Điều 164 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Trong phần khai mạc phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên phạt; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có lợi quyền, trách nhiệm liên can; người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; những người tham gia tố tụng khác; đối tượng khởi kiện; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời kì và địa điểm xét xử”.
#:”. Cách ghi này là theo đúng hướng dẫn tại mẫu bản án, nhưng dường như không hợp lắm vì Luật Tổ chức Tòa án dân chúng quy định ở Tòa án có Thư ký Tòa án, Điều 34, Điều 38 Luật Tố tụng hành chính nêu rõ một trong những người tiến hành tố tụng là “Thư ký Tòa án” chứ không phải là “cán bộ Tòa án” và “ghi biên bản phiên tòa” chỉ là một trong những nhiệm vụ của Thư ký Tòa án.
Đối với phần trình diễn. # Của các đương sự, nhiều bản án đã diễn đạt theo từng giai đoạn: tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa. Việc ghi như vậy có thể sẽ làm cho những người không biết về thủ tục tố tụng tưởng rằng Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên cũng nằm trong Hội đồng xét xử.
Phần trình bày của người bị kiện được các bản án biểu lộ rất “đa dạng” như: “Đại diện ủy quyền của UBND… thể hiện:”, “Quan điểm của UBND…”, “Đại diện UBND… trình bày:”, “Phía người bị kiện - … - đại diện theo ủy quyền là bà… trình diễn. Cách ghi này không hợp lý và không đúng với hướng dẫn của mẫu bản án.
”, Với trích yếu này chỉ cần ghi “V/v khiếu kiện quyết định hành chính hủy kết quả đấu giá QSD đất” là đủ.
Điều 164 Luật Tố tụng hành chính ngày 24/11/2010 quy định về bản án hành chính sơ thẩm đã chép gần như nguyên văn Điều 238 về bản án sơ thẩm của BLTTDS năm 2004. # Tỉnh X”. Nhưng Điều 52 Luật Tố tụng hành chính nêu rõ người có quyền lợi, trách nhiệm can dự gồm: người có lợi quyền, bổn phận can hệ có đề nghị độc lập; người có quyền lợi, nghĩa vụ can dự tham gia tố tụng với bên khởi kiện; người có lợi quyền, trách nhiệm can hệ dự tố tụng với bị đơn kiện.
…” Liền ngay dưới dòng ghi về đương sự họ bảo vệ song ghi ở cuối phần mở đầu. Trong trường hợp đương sự có nhiều người đại diện theo ủy quyền, không thấy ghi phạm vi được ủy quyền của từng người đại diện. Việc ghi người có lợi quyền, bổn phận liên hệ: mẫu bản án dân sự sơ thẩm chỉ dẫn ghi như đối với nguyên đơn, hoặc bị đơn, tức là chỉ ghi tên và địa chỉ.
1 mục 17 quyết nghị số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006 của Hội đồng quan toà Tòa án quần chúng tối cao thì “Bản án hành chính sơ thẩm cần phải có các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 49 của Pháp lệnh và phải được trình bày hao hao theo mẫu bản án sơ thẩm được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng quan toà Tòa án quần chúng tối cao” (tức tương tự mẫu bản án dân sự sơ thẩm).
Ngày… tháng… năm… của Chủ tịch UBND tỉnh…”. Ảnh minh họa Nhìn chung, phần mở đầu của các bản án đều đã viết đúng như quy định tại khoản 3 Điều 146 nêu trên và chỉ dẫn tại Mẫu bản án dân sự sơ thẩm (Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP). Như vậy, cho đến nay bản án hành chính sơ thẩm được viết tương tự như bản án dân sự sơ thẩm. Việc ghi thành phần Hội đồng xét xử của các bản án đều theo đúng chỉ dẫn của mẫu bản án: Dưới dòng chữ “Tòa án quần chúng tỉnh X” là dòng chữ “với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có”, ghi Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm quần chúng, liền ngay đó ghi Thư ký Tòa án, đại diện Viện kiểm sát.
Một số bản án lại ghi trích yếu quá dài, thí dụ: “V/v khiếu kiện quyết định số 4522/QĐ-STC ngày 27/9/2010 của Sở Tài chính Hà Nội về việc hủy kết quả trúng đấu giá QSD đất 16 thửa đất các lô đất No10B, No11B Khu đô thị mới Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội.
Hướng dẫn này không thật phù hợp với việc viết bản án hành chính như: không có quan hệ… dẫn đến có tranh chấp, không có vấn đề phản tố. Mẫu bản án dân sự sơ thẩm có hướng dẫn “Trong phần này ghi quan hệ được xác lập giữa các đương sự dẫn đến có tranh chấp; các vấn đề cụ thể mà người khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết; yêu cầu phản tố (nếu có) và yêu cầu cụ thể của bên bị; đề nghị độc lập và đề nghị của người có lợi quyền, trách nhiệm can dự (để ý không miêu tả diễn biến sự việc theo lời mô tả của các đương sự)”.
Do đó nên ghi rõ là “Ngày tuyên xử”. Việc ghi như vậy không sai so với quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính nhưng làm cho người đọc không nhận biết được đó là quyết định hành chính về vấn đề gì. Nhìn chung các bản án đều viết phần nhận thấy theo cách thể hiện tuần tự các sự kiện như “kể chuyện”, làm cho người đọc rất khó nắm bắt đề nghị cụ thể của đương sự và khó xác định được những “tiền đề” mà Hội đồng xét xử sẽ phân tách lập luận để ưng ý hay không bằng lòng ở phần “XÉT THẤY”.
Cách ghi này cần được miêu tả lại để người đọc thấy được sự đồng đẳng giữa hai bên đương sự trước Tòa án và bảo đảm thống nhất giữa các bản án. Vấn đề đặt ra là có cần mô tả như thế không hay chỉ cần nêu một cách rõ ràng ý kiến rốt cục của họ.
Việc viết bản án hành chính sơ thẩm hiện Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (ngày 21/5/1996 được sửa đổi bổ sung ngày 25/12/1998 và ngày 5/4/2006) thì bản án hành chính sơ thẩm phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm, địa điểm tiến hành phiên tòa; Họ, tên thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký phiên tòa; Tên, địa chỉ của các đương sự, người đại diện của họ; đề nghị của các đương sự; Những tình tiết đã được chứng minh, những bằng chứng, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án; Các quyết định của Tòa án; Án phí, người phải chịu án phí; Quyền kháng cáo của đương sự.
Về việc ghi trích yếu dưới dòng ghi ngày tháng năm tuyên xử, có 10/21 bản án đã không ghi trích yếu, 3 bản án chỉ ghi “V/v khởi kiện quyết định hành chính”, 1 bản án ghi “khởi kiện quyết định hành chính số. Tuy nhiên, các bản án hành chính sơ thẩm hầu như chưa theo đúng quy định nêu trên của Luật Tố tụng hành chính và cũng chưa thật sự biểu thị tương tự theo mẫu bản án sơ thẩm được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP.
Do đó, cần phải có chỉ dẫn riêng về việc viết bản án hành chính sơ thẩm. Cụ thể như sau: Nhiều bản án đã “tường thuật” nội dung vụ án mà không rõ đâu là mô tả của người khởi kiện và đâu là mô tả của người bị kiện.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét