Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Nhìn lại 15 năm xây dựng văn hóa mới mẻ ở khu dân cư


Một tiết mục trình diễn văn nghệ tại khu dân cư

Ảnh: Hoàng Long


Như vậy, CVĐ "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” là sự tiếp nối và phát triển của CVĐ "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do UBTƯMTTQ Việt Nam phát động từ tháng 5-1995, là cuộc cách mệnh ở cơ sở kế thừa, quy tụ, mở mang và nâng cao CVĐ "Đời sống mới”do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng trước đây và phát huy những kinh nghiệm, kết quả của các CVĐ, các phong trào thi đua yêu nước vốn có hiện giờ của quần chúng ta.


Qua gần hai thập kỷ khai triển, đến nay CVĐ đã lan tỏa đến hồ hết các thôn, làng, ấp, bản, đường phố ở mọi vùng, miền của Tổ quốc.


Với sự hưởng ứng nồng hậu và mau chóng của các khu dân cư đã chứng tỏ đây là cuộc vận động cách mệnh hợp lòng dân, là phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ đất nước của toàn dân trong thời kỳ đổi mới do Đảng lãnh đạo, các tổ chức trong hệ thống chính trị tham dự tổ chức, thực hành với sự chủ trì phối hợp của MTTQ các cấp, nhất là Ban Công tác trận mạc trên địa bàn dân cư.


Kết quả rõ nét nhất mà CVĐ mang lại là khuyến khích, động viên dân chúng phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng ngành nghề, giải quyết việc làm, góp sức cùng nhau thành lập các tổ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật; giúp nhau về vốn, giống cây trồng, vật nuôi, kinh nghiệm sinh sản; xóa nhà tranh tre dột nát, thực hành ngói hóa… Nhờ đó, nhiều nơi đã xóa được hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo, tăng hộ làm ăn khá giả.


Dù rằng sống và hoạt động trong cơ chế thị trường, song chính nhờ có CVĐ đã làm sâu sắc thêm "tình làng, nghĩa xóm” – một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Chính nhờ có sự tương trợ, trợ giúp lẫn nhau nên nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi giảm hẳn, có nơi đã bị chặn đứng; sinh sản phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng được cải thiện rõ rệt.


Cuộc vận động đã có tác động tích cực đến việc huy động nguồn lực, tập trung sức giải quyết những vấn đề bức xúc trong cộng đồng như vệ sinh môi trường; cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường làng, ngõ xóm; xóa cầu khỉ; đưa điện, nước sạch về từng hộ gia đình; giúp nhau thanh toán nhà tranh tre, vách đất; cải tạo, nâng cấp, xây mới các trường, trạm xá…


Với phương châm "dân chúng tự làm”; "quần chúng. # Làm với sự tương trợ của Nhà nước” và "quốc gia và quần chúng cùng làm”, CVĐ đã góp phần làm đổi thay mau chóng cảnh quan khu dân cư ở nhiều nơi, cả ở thành thị lẫn nông thôn.


Kết quả trổi của CVĐ là đã thực hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và quốc gia về các hoạt động nhân đạo, từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, giúp các gia đình thương binh, liệt sĩ, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cán bộ lão thành cách mệnh có cuộc sống ổn định về vật chất, vui vẻ về ý thức.


Cuộc vận động đã tạo tiền đề và điều kiện cho việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân bằng hình thức tự quản ở khu dân cư. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt khi khai triển CVĐ là dựa vào dân, thực sự để dân bàn, dân tự quyết những vấn đề bức xúc do chính cuộc sống ở từng khu dân cư đặt ra vì lợi ích của dân, thực hiện bằng sức dân, do dân tự quản.


Thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên, những năm qua nhiều hình thức quần chúng tự quản xuất hiện ở hầu khắp các khu dân cư. Một trong những hình thức tự quản phổ biến là việc xây dựng và cam kết thực hiện hương ước, quy ước. Duyệt y việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, từng người dân, từng hộ gia đình đã dần hình thành nếp tự giác dự các công việc của cộng đồng, thực hiện "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Qua đó, hoạt động thanh tra quần chúng. # Do MTTQ xã, phường đảm nhận hoạt động có hiệu quả hơn.


Cuộc vận động đã góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của quốc gia, góp phần xây dựng lực lượng chính trị gắn bó với dân chúng, tăng cường và mở rộng khối Đại kết đoàn toàn dân, giữ vững ổn định chính trị trật tự an toàn tầng lớp ở hồ hết các xã, phường, địa bàn dân cư.


Phê chuẩn CVĐ, các tổ chức của chiến trận cơ sở được củng cố và mở mang; vị trí, vai trò của các đoàn thể chính trị - tầng lớp được khẳng định; hoạt động của chiến trường trong các xã hội dân chúng càng ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, cùng với những tiến bộ nêu trên, qua 15 năm khai triển thực hành Nghị quyết TƯ 5 "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đằm thắm bản sắc dân tộc” đã biểu đạt hàng loạt những hạn chế, yếu kém, trong đó yếu kém lớn nhất là văn hóa chưa làm được chức năng "nền tảng ý thức của từng lớp, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-từng lớp” như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đề ra.


Vì vậy, văn hóa chưa có đóng góp rõ nét vào việc xây dựng con người Việt Nam nói chung, người đảng viên nói riêng về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển từng lớp. Điều đó biểu hiện rõ nhất ở tình trạng suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên càng ngày càng tăng và nghiêm trọng.


Giả dụ ở thời điểm Hội nghị lần thứ 5 khóa VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết nghị về văn hóa, Văn kiện Đại hội VIII nhận định: "Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai lạt lý tưởng cách mệnh, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở Đảng suy yếu” thì đến Đại hội IX, Văn kiện lại khẳng định: "Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Tình trạng phung phí, quan còn khá phổ quát”.


Tình trạng đó càng về sau càng trầm trọng và tinh tướng hơn. Bởi vậy, Đại hội XI nhận định: "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, phung phí, quan liêu, những bị động và tệ bạc tầng lớp chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của người dân đối với Đảng và quốc gia, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”.


Một biểu lộ mới xuất hiện từ sau khi có quyết nghị Trung ương 5 (khóa VIII) là tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy huân chương có xu hướng phát triển và càng ngày càng tinh tướng.


Tình hình đó là do nhiều căn do. Một trong những duyên do quan trọng là trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, cũng như trong hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta đã thả lỏng, không quyết liệt trong việc thực hành khẳng định định hướng tầng lớp chủ nghĩa; không quán triệt quan điểm tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng từng lớp ngay trong từng bước và trong quá trình phát triển như quyết nghị Đại hội VIII của Đảng đã đề ra.


Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII chủ trương: Xây dựng gia đình no đủ, đồng đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Đây là một chủ trương đúng. Có thể mường tưởng gia đình Việt Nam là một từng lớp thu nhỏ, là tổ chức tế bào của cộng đồng, là nguyên tố tích cực để phát triển từng lớp Việt Nam Thông qua thực hành các chức năng căn bản như duy trì nòi, thực hành chức năng kinh tế; thỏa mãn các nhu cầu tình cảm; nuôi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và thực hiện các chức năng đó mà hình thành các mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi quyền và trách nhiệm, về tình thương và lòng hàm ơn, về ngôn ngữ và cách cư xử hàng ngày.


Văn hóa gia đình Việt Nam chịu ảnh hưởng của thời đại, của đạo ở những chừng độ khác nhau. Song văn hóa gia đình luôn lấy đạo lý làm gốc. Đó là hiếu với ông bà, bác mẹ; hòa thuận giữa vợ chồng, anh em; nhất là nhường lẫn nhau để đảm bảo gia đình hòa thuận, vui vẻ và hạnh phúc.


Xây dựng gia đình văn hóa là một quá trình lâu dài, từ thấp lên cao, chẳng thể nóng vội. Kế thừa và phát huy văn hóa gia đình 15 năm qua chúng ta xây dựng gia đình văn hóa với 4 tiêu chuẩn và 13 tiêu chí (theo Quyết định số 01/2002/QĐ-BVH-TT ngày 2-1-2002 của Bộ Văn hóa – thông báo).


Đạt cho được 4 tiêu chuẩn và 13 tiêu chí của một gia đình văn hóa như quyết định trên, là một quá trình phấn đấu lâu dài và đầy gian khổ của mọi thành viên trong gia đình. Chỉ cần 50% hộ gia đình đạt danh hiệu "Gia đình văn hóa” thực sự (chứ không phải 80% như quy định) đã thực sự làm cho "Làng văn hóa”, "Khu phố văn hóa” thay da đổi thịt, phong quang, sạch đẹp, có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển, có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú.


Sỡ dĩ quần chúng nhiều nơi hiện nay "dị ứng” với danh hiệu "Gia đình văn hóa”, "làng văn hóa”, "khu phố văn hóa” vì bởi bệnh thành tích và cả nể, nhiều nơi đã xác nhận tràn lan.


Quần chúng không ưng những gia đình được công nhận là gia đình văn hóa, nhưng ở đó con cái bất hiếu với ba má, anh em, vợ chồng đối xử tối.< sáng dạ với nhau; không ưng ý những làng, khu phố được xác nhận là "văn hóa” nhưng vẫn tồn tại ngang nhiên các tồi tệ xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, nhiều thanh thiếu niên hư hỏng, buôn bán phụ nữ, trẻ em...


Nhân tổng kết 15 năm thực hành quyết nghị TƯ 5 (khóa VIIII) về văn hóa, chúng ta với thái độ nhìn thẳng vào sự thật để xem xét một cách khách quan cái được cũng như cái chưa được để có chủ trương, giải pháp thiết thực nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiền tiến, thắm thiết bản sắc dân tộc.

Nguyễn Túc

Ủy viên Đoàn chủ toạ UBTƯ MTTQ Việt Nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét