PV: - Vậy theo ông vấn đề tăng thuế suất tài nguyên nên giải quyết như thế này thỏa đáng? Ông Phạm Quang Tú: - Tôi cho rằng trước khi văn bản này được đưa ra thì nhà nước và doanh nghiệp cần ngồi với nhau để thảo luận, đàm luận và chứng minh mức thuế suất đưa ra là ăn nhập

Hai công ty này cho rằng có thể buộc phải dừng hoạt động. Với khoáng sản điều chỉnh tăng là nên làm. Điều này từng được chứng minh qua kết quả khảo sát nguy cơ tham nhũng ẩn chứa trong một số hoạt động quản lý, vỡ hoang khoáng sản do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tham mưu Cục Chống Tham nhũng thực hành năm 2011 đã chỉ ra uổng không chính thức cho việc xử lý hồ sơ cao. Tôi cho rằng, nếu doanh nghiệp dọa đóng cửa sẽ có 2 trường hợp: Một là tăng thuế, thực sự doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ nếu tính tất tật các uổng.
Còn thực chất của thuế tài nguyên thì đã là vàng thì ở đâu cũng vẫn là vàng.
Nghĩa là khi đó họ thấy ảnh hưởng tới túi tiền, lợi nhuận không được cao như kỳ vọng nên doanh nghiệp cứ kêu lên như thế thôi.
Thậm chí họ còn dọa quốc gia. Thành ra doanh nghiệp vỡ hoang 10 chỉ khai báo 5, như vậy quốc gia chỉ thu được 5 đơn vị. Trước đó, quá trình khảo sát để Việt Nam dự Sáng kiến sáng tỏ trong khai phá khoáng sản đã chỉ ra hiện thông tin về các khoản thuế và phí này rất thiếu minh bạch. Ngay sau đó Công ty TNHH Vàng Phước Sơn (PSGC) và Công ty TNHH khai hoang Vàng Bồng Miêu (BMGMC) đã có văn bản kiến nghị gửi Bộ Tài chính cho rằng việc vận dụng chính sách tăng thuế suất tài nguyên với ngành khoáng sản vàng lên 25% sẽ "ảnh hưởng đến ngày mai của ngành khai khoáng cũng như tác động bị động tới kinh tế, đầu tư, môi trường, vấn đề an sinh tầng lớp".
Giữa quốc gia và doanh nghiệp. Nghĩa là thuế đánh vào giá trị gốc của tài nguyên đó. Thông thường các doanh nghiệp vẫn thường phải bỏ ra những khoản tổn phí bôi trơn nên thỉnh thoảng có những phản ứng mà chỉ người trong cuộc mới hiểu được.
Sinh sản vàng tại mỏ vàng lớn nhất Việt Nam Do vậy tôi muốn nói là không nên áp chung theo % với tất tật các mỏ vàng mà cần nghiên cứu chi tiết, tính trong cùng một quãng thời kì sẽ có công thức tính cụ thể.
Nghiên cứu cũng chỉ ra phí để có Bản thỏa thuận của cơ sở với chính quyền địa phương có 25/110 cơ sở phải chi để có Bản thỏa thuận này. Hai là tăng thuế, doanh nghiệp vẫn có lãi song cứ kêu lên như vậy để hòng có lợi. Nếu doanh nghiệp phản ứng, dọa đóng cửa thì cơ quan đưa ra mức thuế suất này cần chứng minh cho họ thấy với mức thuế suất như vậy thì doanh nghiệp vẫn có lãi.
PV: - Với bất kỳ doanh nghiệp khai khẩn khoáng sản nào thì tình huống này xảy ra liệu có thêm một góc khác, doanh nghiệp phản ứng bởi vốn các khoản chi đã quá nhiều (khoản ngoài thuế) nên khi tiếp kiến phải tăng thêm thì họ phản ứng, trong khi thực tiền mà nhà nước thu về lại không nhiều.
PV: - Thưa ông, mới đây Bộ Tài chính có đề xuất tăng thuế suất tài nguyên đối với ngành khẩn hoang khoáng sản vàng từ 15% lên 25%. Ngoài ra việc đóng thuế tài nguyên doanh nghiệp cho quốc gia dựa trên khai báo của doanh nghiệp. Tuy nhiên mức thuế được điều chỉnh về thuế suất tài nguyên như thế nào được cho là đúng và hạp thì phải cần hiểu rõ thực chất của thuế tài nguyên là gì.
Là giá trị nguyên khai. Ông nghĩ sao về khả năng này? Ông Phạm Quang Tú : - Với giác độ này nói chung trong các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tôi nghĩ là cũng có thể xảy ra. Tỉ dụ thuế tài nguyên vàng hiện được tính là 25% thì giá trị nguyên khai của nó là bao lăm?! Ở Việt Nam cách đánh thuế theo % tôi nghĩ rằng là chưa được chuẩn bởi cùng một loại vàng nhưng có những nơi điều kiện khai khẩn khó, nhưng có nơi lại dễ hơn nên nếu cứ áp theo % thì ở những nơi khẩn hoang khó sẽ bị ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Phí Trung bình của các cơ sở này là 14 triệu/bản thỏa thuận. Kết quả khảo sát thấy có 67% số cơ sở cần chi nhiều hơn 10 triệu; có 26% số cơ sở cần chi nhiều hơn 50 triệu; có hơn 15% cơ sở cần chi nhiều hơn 100 triệu.
Các giải trình kèm theo đủ để thấy mức thuế đưa ra giúp quốc gia chống thất thu còn doanh nghiệp không bị thiệt. Thí dụ như phí để có quyết định phê chuẩn trữ lượng: nhàng nhàng là 110 triệu, cao nhất lên tới 1,2 tỷ.
Còn việc doanh nghiệp kêu thì doanh nghiệp phải xem lại hài hòa lợi. Các tính tình, giải trình từ phía cơ quan nhà nước phải để doanh nghiệp thấy trong mức thuế 25% đó với phương án kinh dinh của doanh nghiệp thì sẽ đảm bảo doanh nghiệp vẫn có nguồn thu nhất mực.
Là người từng tham gia khảo sát, nghiên cứu tại nhiều doanh nghiệp khẩn hoang khoáng sản ông bình luận gì về câu chuyện này? Ông Phạm Quang Tú: - Trong bối cảnh hiện của Việt Nam thì việc cần vận dụng các phương tiện thuế theo hướng tăng các loại thuế lên để bảo đảm quản lý khai khẩn và dùng tằn tiện hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên là cần thiết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét